Hiển thị các bài đăng có nhãn NHIẾP ẢNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHIẾP ẢNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

CÁCH SỬ DỤNG PIN MÁY ẢNH HỢP LÝ

Có 4 cách để tiết kiệm pin khi cần tiết kiệm:

Để xem dung lượng pin còn bao nhiêu, bạn có thể xem biểu tượng nhỏ hình viên pin trong màn hình máy ảnh, nếu nó nhấp nháy là hiện tượng pin sắp hết sạch. Bỏ pin vào xạc, đèn trên cục xạc sáng liên tục màu đỏ hoặc nhấp nháy và sẽ chuyển sang màu xanh khi đầy pin. Với pin Lithium, bạn có thể xạc khi pin vẫn còn, nhưng với pin Ni-MH (như của máy ảnh 1Ds MII chẳng hạn), bạn bấm nút cục xạc để tự động xả hết pin và xạc để tuổi thọ pin được nhiều.


Pin Ni-MH, bấm nút xả pin trước khi xạc để tăng tuổi thọ cho Pin

1 - Tắt chế độ xem lại ảnh tự động (review off)

Những hoạt động hao tốn pin rất nhiều trên máy ảnh là sử dụng đèn flash cóc, chụp chế độ Live View, lấy nét cơ chế tự động (AF) hệ thống cơ khí của ống kính làm tiêu hao rất nhiều điện năng. Nếu được, bạn nên hạn chế, tắt đèn, không chụp Live View, lấy nét M thay vì AF. Nhưng, có một hoạt động hao tổn pin nhiều mà ít nhận ra đó là xem lại ảnh vừa chụp. Thường thường, thói quen của người chụp máy số là xem lại ảnh ngay sau khi bấm máy, hoặc là máy tự động review, hoặc là người chụp bật lên.


Review Time, chọn Off

2 - Bật chế độ tự động tắt (auto power off)

Không phải lúc nào máy ảnh cũng hoạt động, nhưng lúc bạn tìm kiếm khoảnh khắc, di chuyển tìm khung cảnh, nếu máy ảnh ở chế độ sẵn sàng liên tục sẽ là nguyên nhân hao tổn pin. Bật chế độ tự động tắt sẽ tiết kiệm một phần điện năng, máy ảnh sẽ tự động chuyển qua chế độ nghỉ và trở lại ngay tình trạng sẵn sàng khi bạn bấm nửa nút chụp.


3 - Tắt Beep

Một cách tiết kiệm năng lượng pin nữa là tiếng Beep. Đây là tiếng phát ra khi bạn lấy nét, đúng nét, máy sẽ kêu tiếng bíp, nhưng khi cần thiết tiết kiệm, bạn tắt tiếng này đi, hoặc bật chế độ kêu nhỏ nhất. Tương tự như vậy, tắt cơ chế chống rung trên ống kính hoặc thân máy nếu có.


4 - Giảm nhu cầu

Một vài cách tiết kiệm pin khi cần thiết là giảm độ sáng màn hình LCD, không chụp file RAW nếu không cần, giảm độ phân giải ảnh, tránh phơi sáng lâu... Dĩ nhiên là khi cần thiết phải tiết kiệm, thì những điều chỉnh này là rất cần để bạn có thể còn tiếp tục chụp.


Theo kinh nghiệm thì, nếu an toàn cho một chuyến đi chụp xa, hoặc bạn chủ động thời gian xạc pin trong khoảng thời gian đi chụp, hoặc nên có Pin dự phòng.

Làm chủ chiếc máy ảnh của bạn - Phần 2



Bài này tiếp tục tìm hiểu chiếc máy và ống kính có những cấu trúc thành phần nào và cơ chế hoạt động làm sao. Về cơ bản thì mọi máy ảnh chỉ là một cái hộp kín, không lọt sáng, một đầu có lỗ hở để ánh sáng đi vào, và đầu kia là bộ phận chứa phim hoặc bộ cảm biến ảnh. Nó tạo ra hình ảnh bằng cách tích tụ các tia sáng được phản xạ từ cảnh vật và rọi thành hình ảnh trên bề mặt phim có độ nhạy sáng hoặc trên cảm biến hình ảnh. Các bộ phận cơ bản đó là:



Một ống kính: thu nhận ánh sáng.

Một hệ thống kính ngắm: để ta nhìn thấy khung ảnh sẽ thu vào.
Một bộ phận lấy nét: điều khiển vị trí của các lớp thấu kính làm cho hình rõ nét.
Một màn trập: để định thời gian mở ra cho ánh sáng rọi vào phim/cảm biến ảnh.
Một khẩu độ nằm trong ống kính, tuỳ chỉnh lượng sáng đi qua ống kính.
Một hộp tối để gắn phim hoặc cảm biến ảnh chỉ nhận tác động của ánh sáng đi qua ống kính vào.

1. Cơ chế lấy nét

Máy ảnh lấy nét tự động (AF - autofocus) sử dụng một bộ cảm biến, một hệ thông mô-tơ lấy nét tự động. Có hãng thiết kết hệ thống AF dựa vào một bộ cảm biến, có hãng sử dụng dải cảm biến. Máy ảnh DSLR đều dùng bộ cảm biến AF để lấy nét qua ảnh hội tụ từ ống kính kết hợp với dãy cảm biến khác lo việc đo sáng. Các cảm biến đo sáng hoạt động ưu tiên vùng đo sáng theo cùng khu vực lấy nét. Máy ảnh dùng nhiều cảm biến AF cho phép người dùng chủ động chọn điểm lấy nét, hoặc thuật toán xác định chủ đề di chuyển để tự động điều chỉnh lấy nét. Canon gọi là "AI Servo", Nikon gọi là "AF Continuous".



Bắt nét chủ thể chuyển động ​


AF Active - AF chủ động: Khi bấm nhẹ vào nút chụp, máy ảnh phát ra một tia hồng ngoại hoặc sóng siêu âm dò quét khung ảnh. Cảm biến AF nhận được tín hiệu phản xạ, máy ảnh sẽ điều khiển mô-tơ chuyển dịch các thấu kính trong ống kính, ông kính sẽ hội tụ vào vùng rõ nét của chủ đề. Bộ phận cảm biến càng nhạy thì việc lấy nét càng nhanh và đắt tiền. Cách này có thể lấy nét ở vùng tối, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào khoảng cách tia hồng ngoại chiếu, và không xuyên qua gương.

AF passive - AF thụ động: không chủ động phát tia hồng ngoại để đo khoảng cách đến chủ đề, mà phân tích hình ảnh nhận được qua ống kính, vì vậy không đủ sáng thì việc lấy nét khó thực hiện được. Máy ảnh phải lấy nét theo 2 cơ chế:

Dò lệch pha (phase detection): hình ảnh rọi vào cảm biến AF (AF sensor) được phân ra làm đôi. Vị trí tương quan giữa hai hình ảnh này sẽ thay đổi theo vị trí của các thấu kính trong ống kính. Nếu hai hình ảnh này nằm lệch nhau, cảm biến AF sẽ tính toán vị trí cần thiết để ống kính đưa hai hình ảnh này về đúng vị trí chồng khít lên nhau. Mô-tơ trong ống kính hoạt động thực hiện việc thay đổi vị trí các thấu kính theo tín hiệu nhận được từ cảm biến AF. Theo cách này thì máy ảnh lấy nét tự động không phụ thuộc khoảng cách nào, vẫn có thể bám theo chủ đề di chuyển liên tục để lấy nét, với điều kiện đủ sáng cho việc lấy nét.
Đo tương phản (contrast measurement) là không đo khoảng cách nét mà đo lường độ tương phản ánh sáng mà bộ cảm biến nhận được từ ống kính, độ tương phản giữa các điểm trên cảm biến AF rõ nhất khi hình ảnh được lấy nét đúng. Kiểu này về lý thuyết là chậm hơn lấy nét dò lệch pha, không theo chủ thể chuyển động, nhưng độ chính xác cao hơn một khi lấy được nét.


2. Khẩu độ ống kính

Khẩu độ là một lỗ hổng trong ống kính được tạo ra bởi các lá thép chồng chéo lên nhau. Các lá thép dịch chuyển tạo thành độ mở cho khẩu độ lớn hoặc nhỏ. Khẩu độ lớn thì ánh sáng đi qua nhiều, và ngươcj lại khép nhỏ khẩu độ thì ánh sáng đi qua ít. Có một vòng chỉnh trên máy ảnh điều khiển việc đóng mở này, gọi là vòng chỉnh khẩu độ (aperture control).


Độ mở của khẩu độ được gọi là f/số biểu thị tỷ lệ độ dài tiêu cự ống kính với đường kính của khẩu độ mở ra: f/số = tiêu cự / đường kính khẩu độ. Ví dụ: ống kính có tiêu cự 50mm, đường kính khẩu độ lớn nhất là 35mm, ta có số f/35 = 1.4 (làm tròn số). Khẩu độ thông thường trên ống kính có các nấc sau: 1.0 - 1.4 - 2 - 2.8 - 4 - 5.6 - 8 - 11 - 16 - 22 - 32
Số càng nhỏ thì độ mở của khẩu độ càng lớn. Mỗi nấc thường được gọi là 1 khẩu. Xoay vòng từ 5.6 -> 8 gọi là khép 1 khẩu và lượng sáng giảm 1/2, xoay từ 5.6 -> 4 gọi là mở 1 khẩu và lượng sáng tăng gấp đôi.

Nhiều dòng ống kính mới không có vòng chỉnh khẩu độ, độ mở khẩu độ lớn hay nhỏ được điều khiển bằng bánh xe điện tử trên thân máy và chỉ số xuất hiện trên kính ngắm hoặc LCD. Một ống kính ghi Nikon 35mm f/1.4 tức là hãng Nikon sản xuất, tiêu cự 35mm, khẩu độ mở lớn nhất của ống kính này là f/1.4.

3. Khẩu độ và độ nét - Vùng ảnh rõ nét

Khoảng cách mà chủ đề hoặc sự vật hiện rõ nét trong khung ảnh được gọi là vùng ảnh rõ, độ sâu trường ảnh hoặc gọi là chiều sâu ảnh trường (depth of field). Chính khẩu độ ảnh hưởng đến chiều sâu ảnh trường này. Khảu độ khép càng nhỏ thì vùng ảnh rõ càng sâu; khẩu độ mở càng lớn thì vùng ảnh rõ càng cạn.

Khi ngắm qua ống ngắm, ống kính luôn mở lớn hết cỡ để giúp ta lấy nét, ống kính chỉ đóng các lá khẩu theo khẩu độ được chỉnh khi ta bấm nút chụp để màn trập mở ra. Vì vậy, những gì ta thấy qua ống ngắm không đúng như vùng ảnh rõ sau khi chụp, nên để nhìn thấy hiệu quả của vùng ảnh rõ ngay lúc ngắm, ta bấm vào nút xem trước "depth of field preview". Nút này tạm thời điều khiển khép khẩu độ nhỏ lại theo số khẩu độ người chụp chỉnh, khung ảnh sẽ tối hơn nhưng chiều sâu của ảnh hiện rõ hơn.

Nikon D200 - 1/30s - f/16​



4. Màn trập và tốc độ màn trập

Màn trập (shutter) là bộ phận người chụp dùng để quyết định thời lượng mà ánh sáng tiếp xúc với bề mặt phim hoặc cảm biến ảnh. Thời đầu máy ảnh không có màn trập. Người chụp mở nắp ống kính và đóng lại bằng tay sau một quảng thời gian mà họ nghĩ là đủ sáng rồi. Về sau, những tấm phim có độ nhạy sáng cao, thời gian lộ sáng rất nhanh nên người ta chế ra cái màn trập. Màn trập có 2 loại:

Màn trập nằm trong thân máy (focal plane shutter) gồm hai màn đen bằng nhiều lá thép kết hợp xếp chồng khít lên nhau để cản sáng. Khi bấm nút trập, tấm thứ nhất dịch chuyển sang một bên để lộ mặt bộ cảm biến ra ánh sáng, sau khoảng thời gian ấn định thì tấm thứ hai dịch chuyển theo tấm thứ nhất che kín mặt bộ cảm biến lại, kết thúc việc lộ sáng. Ở tốc độ nhanh thì tấm màn thứ hai sẽ theo sát tấm thứ nhất tạo thành một khe hở hẹp, chỉ cho lộ sáng từng phần mặt bộ cảm biến trong quá trình vận hành của màn trập. Loại này hạn chế về tốc độ khi dùng với flash, vì mỗi thời điểm, màn trập chỉ cho lộ sáng một phần mặt bộ cảm biến, nên flash chỉ có thể đồng bộ với mặt cảm biến ở tốc độ chậm.

Màn trập nằm trong ống kính (leaf shutter) thường kiêm luôn vai trò khẩu độ. Khi nhấn nút trập (shutter release), vòng các lá thép mở ra theo kích thước khẩu độ để ánh sáng đi vào bộ cảm biến, sau đó đóng lại sau thời gian đã được ấn định, kết thúc việc lộ sáng. Màn trập kiểu này rất êm và có thể đồng bộ với đèn flash ở mọi tốc độ.


5. Điều chỉnh tốc độ màn trập

Tốc độ của màn trập xác định khoảng thời gian ánh sáng sẽ tác động vào bộ cảm biến và được điều chỉnh bằng một vòng chỉnh tốc độ trên thân máy (shutter dial). Các chỉ số chỉ tốc độ màn trập là con số tỷ lệ so với 1 giây, như 500 nghĩa là 1/500 giây. Các chỉ số thông thường chỉ tốc độ màn trập: 30s - 15s - 8s - 4s - 2s - 1s - 2 - 4 - 8 - 15 - 30 - 6- - 125 - 250 - 500 - 1000 - 2000 - 4000 - 8000 ...
Mỗi nấc tốc độ tương ứng thời gian màn trập mở nhanh gấp đôi nấc đứng trước nó và bằng 1/2 nấc đứng sau nó. 1/125 nhanh gấp đôi tốc độ 1/60 và 1/250 nhanh gấp đôi 1/125 chẳng hạn.


Nikon D3 ISO100 - 30s - f/16​

Màn trập còn có thể thiết đặt tốc độ B (Bulb) hay T (Time). Khi chọn tốc độ này, chừng nào nút bấm chụp còn nhấn xuống thì màn trập còn mở ra cho cảm biến lộ sáng.

* Tốc độ an toàn tối thiểu:
Khi chụp ở tốc độ chậm, sự rung lắc của tay cầm tác động lên thân máy làm mờ nhoè hình ảnh, nên công nghệ chống rung IS (image stabiliser) của Canon, VR (vibration reduction) của Nikon ...khi tích hợp vào các ống kính hay thân máy giúp giảm mờ nhoè ảnh. Người ta có thể chụp ảnh rõ nét ở một khoảng tốc độ chậm nào đó, nhưng không phải ống kính nào cũng có tính năng chống rung.

​


Để hạn chế sự rung lắc máy ảnh khi chụp ở tốc độ quá chậm, chúng ta có cái bảng gợi ý trên. Trước đây, theo kinh nghiệm của nhiều người chụp ảnh đúc kết lại thành nguyên tắc, tuy không hoàn toàn chính xác 100%, nhưng có hiệu quả trong thực tế đa phần cho những người bắt đầu như anh em chúng ta, đó là thiết đặt tốc độ màn trập (chúng ta hay dùng từ “tốc độ chụp” là chưa chính xác) đối ứng với tiêu cự của ống kính (tiêu cự tương ứng với máy ảnh khổ film 35mm) đang sử dụng trên máy ảnh. Ví dụ, nếu ta đang sử dụng ống kính một tiêu cự 60mm trên máy ảnh fullframe, thì tốc độ màn trập tối thiểu nên chọn là 1/60 giây; nếu cùng ống kính tiêu cự 60mm gắn trên thân máy ảnh có cảm quang APS-C, tức là hệ số crop 1.5x tức tiêu cự tương ứng với ống kính trên lúc đó là 90mm, thì tốc độ màn trập nên chọn là 1/90 giây. Để đơn giản và khỏi phải tính toán thì bạn cứ nhân đôi tiêu cự lên, chẳng hạn với ống kính tiêu cự 60mm, tốc độ màn trập được chọn để ảnh không bị mờ nhoè là 1/120s hoặc nhanh hơn. Xin nhắc lại nguyên tắc này là đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của nhiều người, không phải là nguyên lý của nhiếp ảnh.

Có nhiều trường hợp, cố tạo sự mờ nhoè để bức ảnh sinh động hơn, có hồn hơn, và đạt được ý đồ của người chụp hơn, thì người chụp sẽ chọn tốc độ chậm có chủ ý.



Tạo cảm giác rock khi cố ý chụp mờ tay trống​


6. Phối hợp tốc độ và khẩu độ

Tốc độ và khẩu độ sẽ được phối hợp với nhau để điều chỉnh lượng sáng tác dụng vào bộ cảm biến. Để dễ hình dung, ta ví dụ cái ly hứng nước ở cái vòi. Vòi mở lớn, ly nhanh đầy. Vặn vòi nhỏ cho rỉ từng giọt, cái ly đầy nước sau một khoảng thời gian dài. Tốc độ và khẩu độ làm việc với nhau gần như vậy.



Với lượng sáng lớn (khẩu lớn) thì cảm biến chỉ cần khoảng thời gian lộ sáng ngắn (tốc độ nhanh) là nhận đủ lượng sáng cần thiết (đủ sáng). Với cùng một cường độ sáng, cặp thông số 1/500 - f/4, 1/125 - f/5.6, 1/60 - f/8 hay 1/30 - f/11 ... có cùng lượng sáng vào bộ cảm biến như nhau.

Như vậy, với cùng một cường độ sáng, ta có thể dùng nhiều cặp tốc độ khẩu độ khác nhau để cho cùng một lượng sáng như nhau đi vào cảm biến ảnh. Nói cách khác, với một giá trị lộ sáng (exposure value - EV), ta có nhiều tuỳ chọn thời chụp (tốc độ phối hợp với khẩu độ) khác nhau tuỳ ý đồ riêng. Chẳng hạn muốn lấy vùng ảnh rõ (dof) thật sâu thì dùng tốc độ chậm - khẩu độ nhỏ, muốn bắt dính chuyển động thì dùng tốc độ nhanh - khẩu độ lớn.

Bắt dính chuyển động của thiếu nữ
​

7. Thiết lập tốc độ màn trập thế nào?

Trong nhiều tuỳ chọn phương thức chụp của máy ảnh, có phương thức thiết đặt tốc độ tự động. Trên các dòng máy DSLR và nhiều loại máy ảnh khác, có một nút gọi là ưu tiên tốc độ. Thường được đánh dấu bằng chữ “S” (Nikon) hoặc “Tv” (Canon). Bằng cách chuyển qua chế độ ưu tiên tốc độ này, người chụp chủ động kiểm soát tốc độ và để cho máy tuỳ ứng trị số khẩu độ thích hợp cho chính xác với môi trường ánh sáng. Các chỉ số tốc độ thường giới hạn từ 30 giây đến 1/8000 giây trên một số dòng máy mình biết. Ngoài ra, có máy ảnh cho phép chụp với chế độ “Bulb”, cho phép giữ nguyên vị trí màn trập mở khi bấm nút chụp và chỉ đóng khi nút bấm chụp được thả ra. Tốc độ màn trập khi đó dựa vào việc người chụp giữ nút chụp lâu hay mau. Ở chế độ “Bulb” này, sự rung lắc là không tránh khỏi, nên phải gắn máy ảnh lên chân máy hoặc đặt máy ảnh cố định trên bề mặt nào đó, thậm chí phải sử dụng một phụ kiện bấm máy bên ngoài, hay gọi là remote, dây bấm mềm...


Máy ảnh như công cụ của một nghệ nhân. Làm chủ máy càng chắc, cầm máy càng vững, thành thạo với các chức năng điều khiển máy ảnh, thì khả năng bắt được nhiều khoảnh khắc và ít sai phạm đáng tiếc hơn.

Tìm hiểu ống kính - con mắt của máy ảnh - P.1





​


       Các nhà nhiếp ảnh vẫn thường gọi ống kính là con mắt của chiếc máy ảnh. Các tia sáng trước khi được rọi chiếu lên kính ngắm, bề mặt tấm phim của máy chụp phim hoặc bề mặt cảm biến để tạo thành hình ảnh, thì nó phải đi qua ống kính. Lượng sáng và chất lượng các tia sáng đi qua ống kính sẽ quyết định chất lượng hình ảnh được tạo thành, hay nói cách khác chất lượng của ống kính quyết định chất lượng hình ảnh. Ống kính là yếu tố rất quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất trong việc xử lý hình ảnh. Bài viết dành cho các bạn mới tìm hiểu về thiết bị chụp ảnh nói chung, ống kính nói riêng. Hiểu rõ về ống kính để mua sắm đúng nhu cầu và khai thác đúng mức ống kính mình đang có.


A. Nguyên tắc quang học

       Khi một tia sáng đi qua một khối thuỷ tinh có các bề mặt không song song, tia sáng sẽ đổi hướng. Đó là hiện tượng khúc xạ. Ánh sáng đi qua thấu kính lồi còn gọi là thấu kính rìa mỏng hay thấu kính hội tụ sẽ bị gập khúc nhiều nhất ngoài viền mép và ít nhất ở tâm thấu kính. Như vậy, mỗi tia sáng phản chiếu từ vật thể đi qua một thấu kính lồi sẽ quy về điểm hội tụ hay tiêu điểm. Ánh sáng ở vùng cao và thấp hơn vật thể hội tụ bên trên và dưới tiêu điểm. Tất cả các điểm hội tụ ấy cùng nằm trên một mặt phẳng gọi là mặt phẳng hội tụ. Đó chính là hình ảnh lộn ngược đầu sẽ được tạo trên bề mặt phim hoặc cảm biến ảnh.



​


       Thấu kính phân kỳ hay thấu kính lõm thì không hội tụ mà lại phân tán ánh sáng nên không tạo ra hình ảnh. Các nhà sản xuất kết hợp thấu kình phân kỳ và hội tụ để phân bố hình ảnh đồng đều tốt nhất, độ nét và chi tiết cao nhất khắp bề mặt hội tụ của phim hoặc cảm biến. Và, mục đích kết hợp bao nhiêu thấu kính và kết cấu thế nào là để đạt mục đích tối hậu là tạo ra hình ảnh rõ nét, phẳng đều, bằng với kích thước bộ cảm biến ảnh.



​



B. Tiêu cự ống kính

       Điểm quan trọng nhất của một ống kính chính là độ dài tiêu cự, gọi tắt là tiêu cự. Tiêu cự là khoảng cách nằm trên trục tính từ trung tâm quang học của ống kính đến điểm hội tụ trên mặt phim hay cảm biến khi ống kính lấy nét ở vô cực. Tiêu cự ống kính càng dài thì độ khuếch đại hình ảnh càng lớn, kích thước tiêu cự và hình ảnh tỷ lệ thuận. Hình ảnh chụp bằng ống kính tiêu cự 100mm có hình ảnh gấp đôi hình ảnh chụp bằng ống kính 50mm trên cùng máy ảnh.



​



       Một ống kính dùng cho hai loại máy ảnh số có kích thước cảm biến ảnh khác nhau sẽ có cùng độ khuếch đại nhưng khác góc thu hình. Chẳng hạn ống kính 50mm trên máy ảnh DSLR Full-Frame (tương đương kích thước film 35mm) có góc thu hình rộng hơn khi gắn trên máy ảnh DSLR Crop Sensor (tỷ lệ x1.3 hoặc x1.6 với dòng máy DSLR Crop sensor của Canon; Còn Nikon, Pentax, Sony thường là x1.5; hay các dòng máy chuẩn Four Thirds thường là x2). Từ đó, ống kính 50mm trên máy ảnh DSLR Full-Frame là ống tiêu chuẩn normal thì khi gắn trên máy DSLR crop sensor lại là ống kính góc hẹp hơn, tương đương ống kính có tiêu cự dài hơn trên FF. Chẳng hạn ống kính 50mm gắn trên máy ảnh số có cảm biến tỷ lệ x1.5 là 75mm.



​



C. Cấu trúc ống kính

       Một thấu kính hội tụ cũng đủ để tái tạo hình ảnh trên bề mặt phim hoặc bề mặt cảm biến hình ảnh. Dĩ nhiên là hình ảnh rất kém, màu sắc lệch lạc và càng xa vùng trung tâm độ nét càng suy giảm. Nếu kết hợp với một thấu kính phân kỳ nhẹ với chất liệu khác thì hình ảnh sẽ được khắc phục. Do đó, ống kính là một tập hợp nhiều thành phần thấu kính hội tụ và phân kỳ kết hợp với thiết kế tính toán quang học chính xác và cơ khí tinh xảo. Các cấu trúc thành phần thấu kính khác nhau, chất liệu và hình dạng khác nhau tạo ra các loại ống kính khác nhau.



​



       Nhưng càng nhiều lớp thấu kính thì giảm chất lượng hình ảnh vì mỗi thấu kính hấp thụ một phần lượng sáng, bề mặt mỗi thấu kính xảy ra tán xạ ánh sáng. Vì thế, người ta lại khắc phục bằng cách tráng phủ các lớp thuốc trên bề mặt thấu kính để chống loé, hạn chế sự tán xạ, hạn chế sự suy giảm chất lượng của ánh sáng khi đi qua hệ thấu kính. Phần thân ống kính phải đảm bảo giữ cho hệ thấu kính bên trong đồng tâm tuyệt đối, chính xác vị trí, vòng lấy nét phải trơn mượt và dứt khoát, chắc chắn và phải chịu được va chạm thông thường và đặc biẹt sự thay đổi của thời tiết và nhiệt độ ở mức nhất định.


D. Các loại ống kính

Nhiếp ảnh phổ thông có 4 loại ống kính.



​


1. Ống kính trung bình (normal):

       Là ống có độ dài tiêu cự tương đương đường chéo khung phim hoặc cảm biến của máy ảnh dùng ống kính này. Chẳng hạn máy ảnh phim 35mm, kích thước khung phim là 24mm x 36mm có đường chéo là 43mm thì tiêu cự trung bình là từ 45mm - 55mm. Nhiều người bảo ống có tiêu cự tầm trung này tương đương góc nhìn của mắt người, phù hợp với nhiều tình huống chụp. Mình thích cách phân biệt trên hơn.
       * Đặc tính của ống kính trung bình:
       Góc thu hình khoảng 45°, xấp xỉ góc nhìn phối cảnh như mắt người.
       Chủ đề giữ đúng tỷ lệ, không bị biến dạng.
       Đa dụng trong nhiều hoàn cảnh chụp.



Ống kính Nikon 50mm f/1.4 AF
​


2. Ống kính góc rộng (wide-angle):

       Là ống kính có tiêu cự ngắn hơn và dĩ nhiên góc thu hình rộng hơn ống kính 35mm đối với máy ảnh DSLR Full-Frame. Nói về cái ống 35mm được nhiều người chụp ảnh chuyên nghiệp "xem" là ống tiêu chuẩn (normal) nhưng bản chất nó là ống wide. Loai ống góc rộng này sử dụng trong ảnh đại cảnh, kiến trúc... và đắc dụng khi ghi hình ở hoàn cảnh bị hạn chế góc chật, hoặc người dùng muốn có hiệu ứng góc rộng (chúng ta sẽ bàn đến vào bài sau). Với loại ống góc rộng, chỉ cần thay đổi nhỏ trong góc chụp (vị trí đặt máy) có thể làm một khung ảnh bình thường trở nên độc đáo và ngược lại.
       * Đặc tính của ống kính góc rộng:
       Góc thu hình từ 60° - 180°
       Vùng ảnh rõ (dof) rất sâu
       Tăng sự nổi bật của chủ đề ở gần trong phối cảnh rộng, ống càng có tiêu cự ngắn, hiệu ứng này càng tăng. Tỷ lệ gần xa rất mạnh tạo tương quan tiền cảnh hậu cảnh độc đáo nếu dùng đúng cách.
      Đường chéo là phần mạnh nhất trong tầm nhìn góc rộng, kéo hướng nhìn về hộ tụ rất xa. chẳng hạn con hẻm cụt có thể như một ngõ sâu hun hút. 
       Hạn chế các chủ đề hình dạng tròn, mặt người ở gần góc và cạnh khung dễ bị biến dạng.



​


3. Ống kính télé ( ống kính tiêu cự dài, ống kính tầm xa):

       Là ống kính có độ dài tiêu cự lớn hơn tiêu cự của ống kính normal. Loại ống này cho ta góc nhìn hẹp đến rất hẹp, tức là khuếch đại rất lớn các thành phần nhỏ của chủ đề trong khung ảnh. Vì vậy, ống tele hữu dụng khi cần lấy chi tiết một chủ đề mà ta không thể tiếp cận. Ống có tiêu cự càng dài thì độ khuếch đại hình ảnh càng lớn và khoảng ảnh rõ càng mỏng. Phối cảnh chụp bởi ống kính tele có hiệu ứng "mỏng/ dẹt", các mặt phẳng trong khung sát lại với nhau, có thể tạo bố cục độc đáo nhưng cũng tạo đối tượng ở xa to hơn bình thường như mặt trăng/ mặt trời.
* Đặc tính của ống kính télé:
Độ khuếch đại lớn
Vùng ảnh rõ mỏng, tách chủ đề với hậu cảnh (xoá phông)
Tiêu cự càng lớn, phối cảnh bị dồn ép lại, chiều sâu ảnh giảm
Dài và nặng hơn các loại khác




Ống kính Canon 800mm f/5.6 Fixed Super Telephoto IS USM​



4. Ống kính zoom (đa tiêu cự):

       Là ống kính thay đổi được tiêu cự. Nếu tiêu cự thay đổi trong khoảng tiêu cự ngắn được gọi là wide-zoom (chẳng hạn ống 14-24mm); nếu thay đổi trong khoảng tiêu cự dài được gọi là tele-zoom (chẳng hạn ống 100-400mm); nếu thay đổi từ tiêu cự ngắn đến tiêu cự dài thì được gọi đơn giản là zoom (chẳng hạn ống 18-200mm).
* Đặc tính của ống kính zoom:
Cơ động của nhiều tiêu cự.
Có thể chụp zoom in / zoom out
Phù hợp với hoàn cảnh cần phản ứng nhanh


Ống kính Sigma 150-600mm F/5-6.3 DG OS HSM​

       Ống kính đặc biệt: Ống kính macro và ống kính Fisheye
       Các loại ống kính thông thường có khoảng cách lấy nét tối thiểu xấp xỉ gấp 10 lần độ dài tiêu cự. Chẳng hạn ống kính 50mm thì khoảng cách lấy nét gần nhất có thể là 50cm. Nên loại ống kính macro hay micro là ống kính một tiêu cự được thiết kế đặc biệt để có thể lấy nét cực gần và cho hình ảnh cực nét ở cự ly gần. Ống macro thường có tỷ lệ phóng đại 1:1 tức là kích thước vật thể bao nhiêu trong thực tế thì trên bề mặt phim hay cảm biến ảnh cũng có kích thước như vậy.



Ống kính Macro Nikon 200mm f/4​



       Ống macro thường được dùng để chụp các loại côn trùng, bò sát, hoa lá nhỏ, các chi tiết nhỏ phục vụ nghiên cứu. Người ta còn gắn thêm các ống nối (tube) để tăng độ khuếch đại, thậm chí gắn qua hệ thống ống nối đặc biệt ống macro với kính hiển vi để chụp vi trùng.


       Một ống kính góc rộng khác là ống fish-eye có góc thu hình rất rọng và tạo hiệu ứng cong méo. Tất cả đường thẳng không đi qua tâm đều bị uốn cong, càng xa tâm càng cong.



Ống kính Fisheye Nikon 16mm f/2.8​



E. Các đặc tính khác của ống kính:



1. Luật viễn cận của ống kính:

       Tuỳ theo độ dài tiêu cự ống kính, trường sâu độ ảnh sẽ cho hình ảnh không còn giống như mắt nhìn trong cảnh thực. Với ống kính trung bình, chiều sâu ảnh trường gần tương tự như mắt nhìn, nhưng với ống kính tele (tiêu cự dài) thì chiều sâu ảnh trường sẽ thu hẹp lại, hình ảnh có hậu cảnh gần hơn cảnh thực tế, các lớp ảnh sít lại gần nhau; trong khi đó với ống kính góc rộng (wide) thì chiều sâu ảnh trường bị đẩy xa ra, hình ảnh thu được có hậu cảnh xa hơn so với cảnh thực, không gian có cảm giác rộng hơn so với thực tế.



​



2. Khẩu độ ống kính:

       Để hiệu chỉnh lượng ánh sáng đi qua ống kính đến bề mặt phim hoặc cảm biến ảnh, người ta thiết kế trong ống kính bộ phận điều chỉnh dung lượng ánh sáng, đó là khẩu độ ống kính. Có thể hình dung một hộp tối được khoét một lỗ nhỏ hay lớn để ánh sáng xuyên qua ít hay nhiều. Lượng ánh sáng đi qua ống kính tương ứng với diện tích của vòng tròn khẩu độ nên chỉ số khẩu độ càng lớn thì lượng sáng đi qua càng ít. Chúng ta có những chỉ số khẩu độ thông thường: 1 - 1.4 - 2 - 2.8 - 4 - 5.6 - 8 - 11 - 16 -22 - 32



​



3. Khoảng lấy nét tối thiểu:

       Là khoảng cách từ bề mặt phim hoặc cảm biến ảnh đến vật thể được lấy nét. Một ống kính có khoảng lấy nét tối thiểu tốt khi điều chỉnh vòng lấy nét ở vô cực thì hình ảnh nhận được luôn rõ nét. Thường thì ống kính có khoảng cách lấy nét tối thiểu là 50cm đến 30cm. Ống kính macro chuyên dụng chụp cận cảnh có xích độ tối thiểu ngắn hơn.


4. Vùng ảnh rõ (Dof - Dept of Field)

       Khoảng ảnh rõ của một bức ảnh là phần không gian trước và sau của chủ đề được lấy nét có độ nét rõ trên bức ảnh đó, ngoài vùng rõ này không gian còn lại của ảnh mờ dần. Vùng ảnh rõ mỏng hay dày (độ nét sâu ít hay nhiều) tuỳ thuộc vào yếu tố khẩu độ, tiêu cự và xích độ.



​
- Khẩu độ càng nhỏ (... 8 - 11 - 16 - 22 - 32) vùng ảnh rõ ràng sâu (dày), hậu cảnh càng rõ nét. Khẩu độ càng mở lớn (4 - 2.8 - 2 - 1.4 ...) vùng ảnh rõ càng mỏng, hậu cảnh mờ.
- Tiêu cự càng ngắn (28mm - 24mm - 20mm - 10mm...) vùng ảnh rõ càng sâu. Tiêu cự càng dài (400mm - 300mm - 200mm - 135mm...) vùng ảnh rõ càng mỏng.
- Xích độ càng dài thì vùng ảnh rõ càng dày. Xích độ càng ngắn thì vùng ảnh rõ càng mỏng. Nên khi chụp vật thể càng xa thì vùng ảnh rõ càng dày và càng cận cảnh thì vùng ảnh rõ càng mỏng.




Ống kính tele 300mm chụp từ xa, làm cho các lớp dây treo sít lại, hậu cảnh mờ



Ống kính góc rộng Nikon 15mm mở toang cả bối cảnh một cái cổng gạch lớn buổi bình minh



Ống fisheye Nikon 16mm f/2.8 chụp lấy tiền cảnh là quai lư hương xuyên qua ngôi nhà thờ cổ Mằng Lăng



Ống kính macro Nikon 105mm f/2.8
Dof mỏng khi chụp cận cảnh và mở khẩu lớn.​

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Làm chủ chiếc máy ảnh của bạn - Phần 1

A. BÊN NGOÀI THÂN MÁY

1. Các nút điều khiển cơ bản







​2. Cảm biến ảnhTừ thuở đầu của nhiếp ảnh, máy ảnh lưu hình ảnh trên tấm kính hoặc tấm phim.

Ngày nay, máy ảnh số tái tạo hình ảnh trên tấm cảm biến hình ảnh. Các tấm cảm biến được tạo thành từ hàng triệu photodiode cảm nhận ánh sáng được thiết kế thành một tấm lưới. Mỗi photodiode ghi lại một điểm nhỏ của hình ảnh và tất cả chúng tạo thành bức ảnh. Hiện có hai loại cảm biến ảnh CCD và CMOS, về cơ bản chúng hoạt động như nhau. Kích thước của cảm biến quan trọng hơn số lượng điểm ảnh trên cảm biến.

Full frame: Không kể loại "medium format", bộ cảm biến kích thước lớn nhất thường được gọi là "full frame" và có kích thước bằng tấm phim 35mm (24x36mm).

APS-C: Nhiều máy DSLR dùng bộ cảm biến nhỏ hơn, thường được gọi là APS-C - 22x15mm hoặc tương đương khoảng 40% diện tích của bộ cảm biến full frame.

Four Thirds System chỉ bằng 26% bộ cảm biến full frame.

APS-H như của EOS 1D Mark III bằng 61% full frame.

Foveon X3 của Sigma có kích thước bằng 33% full frame.

Một máy bỏ túi hay điện thoại có kích thước cảm biến ảnh là 1/2.5" thì diẹn tích chỉ bằng 3% full frame. 



​



3. Ống kính



Ống kính là cụm thấu kính được làm bằng thuỷ tinh, nhựa tổng hợp chất lượng cao mà ánh sáng xuyên qua nó, ánh sáng được hội tụ lại trên bề mặt phim của máy chụp phim hoặc cảm biến ảnh trong máy ảnh số. Có một số máy ảnh ống kính gắn liền cố định với thân máy như các máy du lịch PnS và có thể hoán đổi ống kính trên máy ảnh DSLR. Nhiều ông kính hoán đổi giúp bạn kiểm soát và sáng tạo được nhiều hơn hình ảnh thu nhận được.



Ống kính là con mắt của máy ảnh. Nó sẽ thu gom các tia sáng và rọi chiếu các tia sáng ấy lên kính ngắm hay bề mặt cảm biến để tạo thành hình ảnh. Chất lượng của ống kính quyết định chất lượng của hình ảnh được tạo ra, cho nên ống kính là yếu tố quan trọng nhất trong việc xử lý hình ảnh. Về cơ bản, có 4 nhóm ống kính:

Ống kính tiêu chuẩn - standard
Ống kính góc rộng - wide angle
Ống kính tiêu cự dài - telephoto
Ống kính đa tiêu cự - zoom






4. Các chế độ chụp ảnh


Auto và các chế độ tự động cơ bản


Đây là chế độ dành cho người bắt đầu cầm máy ảnh. Nikon gọi là Auto mode, Canon gọi là Auto Full. Khi sử dụng chế độ này, chiếc DSLR của bạn trở thành như một chiếc PnS tự động các thiết lập phơi sáng, tốc độ màn trập, khẩu độ, tốc độ, độ nhạy sáng ISO. Bạn chỉ việc bấm nửa nút chụp lấy nét và bấm. Trong đó tự động theo mỗi chủ đề: chân dung, macro, phong cảnh, thể thao, chụp đêm. 
Thể thao hay hành động: Máy ảnh sẽ tự chọn độ nhạy sáng ISO cao và tốc độ màn trập nhanh để bắt được các chuyển động.

Phong cảnh: Máy ảnh sẽ tự chọn các khẩu độ ông skinhs nhỏ để tăng chiều sâu cho vùng ảnh rõ.

Chân dung: Máy ảnh sẽ mở lớn khẩu độ ống kính làm nhoà hậu cảnh, hoặc có máy ảnh tự động nhận diện khuôn mặt để lấy nét vào đúng khuôn mặt đó.

Chụp đêm: Máy ảnh tự chọn tốc độ màn trập chậm, đủ để ghi nhận chi tiết bối cảnh hoặc đèn flash sẽ tự động nháy để rọi sáng chủ đề gần.

Macro: Máy ảnh sẽ khống chế vùng canh nét ở khoảng cách gần, khép khẩu độ nhỏ để tăng chiều sâu cho vùng ảnh rõ. 




P / Program

Nikon gọi là Program AE mode, Canon gọi là Program Shift. Chọn chế độ này, máy sẽ tự động thiết lập tốc độ màn trập và khẩu độ ống kính. Nhưng độ nhạy sáng ISO, bù trừ sáng và các thiết lập khác thì bạn tự thiết lập và kiểm soát. Bạn có thể để ISO thấp nhất để giảm độ nhiễu, và để chế độ P trong trường hợp chụp nhanh không cần phải suy nghĩ tính toán.


A / Av Aperture Priority

Đây là chế độ bán tự động cho phép bạn chủ động chọn khẩu độ (độ f của ống kính) theo ý muốn, và máy tự động chọn tốc độ màn trập cần thiết tương ứng với khẩu độ bạn chọn để đúng sáng. Chế độ này còn được gọi là “ưu tiên khẩu độ”. Ví dụ bạn muốn chụp khẩu độ f/2.8, bạn sẽ chủ động chỉnh khẩu f/2.8, khẩu độ sẽ tự máy chọn với tình trạng ánh sáng hiện tại bạn chụp.


S / Tv / Shutter Priority

Cả Nikon và Canon đều gọi là ưu tiên tốc độ màn trập, nhưng Nikon viết tắt là chữ S, Canon viết tắt là chữ Tv. Chế độ này ngược lại chế độ A / Av trên. Bạn chủ động chọn tốc độ màn trập và máy tự động chọn khẩu độ tương ứng cho đúng sáng. Thường chọn chế độ này khi người chụp muốn duy trì một tốc độ cao để tránh rung lắc và khẩu độ phó mặc cho máy tuỳ chọn tương ứng.


M (Manuel)

Cả hai hãng Nikon & Canon đều viết tắt là M, nhưng Nikon gọi là Manual mode, Canon gọi là Metered manuel. Chế độ này hay gọi là chế độ chụp manual, chỉnh hoàn toàn bằng tay. Bạn sẽ phải chủ động chọn tốc độ màn trập, khẩu độ cho tất cả mọi cú bấm máy. Đặc biệt, ở chế độ này, bạn có thể chụp tốc độ hoàn toàn chủ động Bulb (bấm máy và màn trập mở liên tục đến khi nào thả nút chụp thì màn trập mới đóng lại) dành cho các trường hợp phơi sáng lâu.


Ev (Exposure value)

Các chế độ chụp P, S và A còn có thể tinh chỉnh thêm nữa bằng cách tăng giảm các giá trị EV. Đây là thang độ chia thành nhiều nấc, mỗi nấc tương ứng với một tỷ lệ lộ sáng. Giá trị Ev thường được điều chỉnh bằng vòng xoay hoặc nút bấm.


Một số máy ảnh có chế độ Exposure Bracketing (chụp bù trừ tự động). Khi chụp ở chế độ này, máy ảnh sẽ tự động chụp một loạt 3, 5 hoặc 7 tấm ảnh với các giá trị lộ sáng khác nhau để tăng thêm khả năng có một bức ảnh chụp đúng sáng nhất.



5. Đèn



Máy ảnh du lịch (compact/pns) có đèn gắn cố định trong thân máy được kích hoạt đồng bộ với màn trập máy ảnh, nhưng không thể kiểm soát thời gian và cường độ sáng của đèn. Máy DSLR thì có đèn pop-up (cóc) có thể kiểm soát để đồng bộ với màn trập, cường độ sáng phù hợp với tuỳ cảnh vật.



Auto flash: Máy ảnh sẽ tự động nháy sáng đèn flash trong điều kiện ánh sáng yếu. Đèn flash sẽ là nguồn sáng chính.

Off flash: Không cho đèn tự động nháy sáng. Máy ảnh sẽ tự động nâng độ nhạy sáng ISO lên và chọn các khẩu độ mở rộng nhất để có thể chụp ảnh trong điều kiện nguồn sáng tự nhiên hạn chế.

Fill flash: Máy ảnh sẽ tự điều chỉnh để cân bằng nguồn sáng tự nhiên và lượng sáng của đèn flash.

Red-eye reduction: Máy ảnh sẽ nháy sáng đèn flash một lần trước khi nháy sáng lần thứ hai để chụp ảnh. Lần sáng trước nhằm làm cho đồng tử trong mắt của người được chụp co lại để giảm hiệu ứng mắt đỏ. Đây là hiệu ứng nhiếp ảnh chứ không phải hiện tượng tồn tại trong tự nhiên.

On flash: Đèn sẽ sáng liên tục khi chụp, bất kể là hoàn cảnh ánh sáng nào. 



6. Hệ thống ngắm


Kính ngắm chỉ là một bộ phận để xác định khung hình. Hình ảnh qua kính ngắm lúc nào cũng rõ nét. Để trợ giúp cho việc lấy nét, các máy ảnh có thêm một cơ phận dò cự ly được thiết kế chung với kính ngắm. Đó là một cặp lăng kính nhỏ hoặc gương nằm bên trong thân máy ảnh. Một gương mờ đặt cố định mà ta có thể nhìn xuyên qua. Cặp gương hay lăng kính kia sẽ xoay khi ống kính của máy ảnh được điều chỉnh lấy nét, khi hai hình ảnh chồng lên nhau tức là ánh sáng qua ống kính đã được hội tụ vào cùng một khoảng cách.







B. CÁC CHẾ ĐỘ ĐO SÁNG

Các thông số về thời chụp đều phụ thuộc vào bốn yếu tố biến đổi:

Cường độ ánh sáng hắt vào chủ đề, hay độ sáng của chủ đề phản chiếu tới máy ảnh (hoàn cảnh sáng). 
Độ nhạy của bộ cảm biến đối với ánh sáng (ISO) 
Khoảng thời gian cho bộ cảm biến lộ sáng (tốc độ màn trập). 
Lượng sáng đi vào bộ cảm biến (điều khiển bằng khẩu độ ống kính) 

Máy ảnh số có hệ thống đo sáng bên trong giúp chọn lựa tốc độ màn trập, khẩu độ ống kính, độ nhạy sáng phù hợp để bộ cảm biến được lộ sáng đúng. Các hệ thống đo sáng thiết kế chung với máy ảnh đều đo ánh sáng phản chiếu - ánh sáng từ chủ thể hắt về phía máy ảnh - và được nối kết trực tiếp với các bộ phận điều khiển tốc độ và khẩu độ.


Các máy ảnh đo sáng qua ống kính (through the lens - TTL), dựa vào lượng sáng thật sự tạo thành hình ảnh và sẽ tác dụng đến cảm biến. Khi thay đổi ống kính, hoặc gắn thêm kính lọc (filter) vào trước ống kính, hệ thống đo sáng TTL đó tự động điều chỉnh theo sự thay đổi đó.


Đo sáng trung tâm (center-weighted average metering): Chế độ đo sáng tập trung ở khu vực chính giữa hơi chệch xuống dưới, kiểu đo sáng thường được gọi là "đo trung bình ưu tiên giữa", bởi vì các yếu tố quan trọng nhất của mọi bức ảnh thường là nằm ở khu vực này.

Chế độ đo sáng ma trận (matrix metering hay multi segment metering): Kính ngắm của máy có hệ thống đo sáng này được chia thành nhiều phần (segment), mỗi phần sẽ đo sáng một khu vực hình ảnh nhất định, máy ảnh sẽ nhận mọi thông số và tính ra độ nhạy, tốc độ, khẩu độ phù hợp với hoàn cảnh sáng.

Đo sáng điểm (spot metering): Đo sáng tại một điểm nhỏ, cho thông số rất chính xác. Điểm đo sáng nằm ở giữa tâm kính ngắm, và một số dòng máy ảnh cho phép dịch chuyển vị trí đo sáng điểm này để thuận tiện cho việc bố cục khung hình. 

Như ta vẫn nói "nhiếp ảnh là trò chơi với ánh sáng" thì đo sáng là chức năng quan trọng của chiếc máy ảnh (hoặc cầm máy đo sáng bằng tay), vì nó xác định giá trị phơi sáng cho máy ảnh. Chọn chế độ đo sáng sai, đo sáng sai cách sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bức ảnh, có thể làm hỏng bức ảnh. Ngược lại, đo sáng đúng, bức ảnh có kết quả tốt.




C. CÂN BẰNG TRẮNG


Mắt người tự động thích ứng rất nhanh với những thay đổi về ánh sáng, nhưng bộ cảm biến ảnh của máy ảnh lại không thể tự động thích ứng chính xác như vậy. Đây là vấn đề chính của màu sắc trong ảnh. Màu sắc của bức ảnh được chụp nhiều khi không giống với màu tự nhiên, và vì vậy máy ảnh số phải cân bằng lại màu sắc theo cách cân bằng trắng (white balance).


White Balance là cân chỉnh ánh sáng theo màu trắng - khái niệm quen thuộc với dân quay video hồi trước. Ánh sáng ban ngày là một nguồn sáng lạnh không màu nhưng nếu trời có mây mù hay ta bước vào bóng râm thì mọi vật thể đều có màu lẫn với sắc xanh. Trong căn phòng thắp đèn vàng dây tóc, ánh sáng ở đó sẽ có sắc đỏ cam ấm áp trong khi ở trong phòng ánh đèn huỳnh quang thì mọi màu sắc pha chút xanh lá cây. Cân bằng trắng là công việc làm cho hình ảnh được chụp có màu sắc trung thực. Máy ảnh số nào cũng có các chế độ White Balance.


Auto White Balance: tự động cân bằng màu sắc 
White Balance theo các nhóm nguồn sáng: ngoài trời nắng, dưới mây mù, trong nhà, dưới ánh đèn vàng, dưới ánh đèn huỳnh quang... máy ảnh tự động tuỳ hoàn cảnh thực tế để ghi nhận màu trắng đúng thật. 
Nhiệt độ K: người dùng tự điều chỉnh các cấp độ cân bằng trắng theo thang độ K. 








"Chiếc máy ảnh là một tấm gương soi có trí nhớ nhưng không biết tư duy" (Arnold Newman 1918-2006)

Tìm hiểu cơ bản để biết thiết bị mình sử dụng giúp làm chủ nó tốt hơn. Cụ thể là điều chỉnh các vòng xoay, nút bấm hay lựa chọn trong menu phù hợp và nhanh nhạy dần dần như phản xạ tự nhiên, giúp người mới dùng máy ảnh chụp ảnh tốt hơn. Tất cả thao tác ấy giúp người dùng kiểm soát các thông số để đảm bảo ảnh đúng sáng hoặc đúng ý. Các phần sau sẽ tìm hiểu sâu hơn từng chức năng và nguyên lý hoạt động của chiếc máy ảnh.